Đặc sắc nghệ thuật trong Tiếng hát con tàu – Chế lan viên
Đánh giá bài viết

Đặc sắc nghệ thuật trong Tiếng hát con tàu – Chế lan viên

Hướng dẫn

Loading...

Đề bài: Anh/ chị hãy trình bày về phương diện nghệ thuật đặc sắc trong Tiếng hát con tàu – Chế lan viên

Mở bài: Giới thiệu về Tiếng hát con tàu – Chế lan viên

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của nền thơ ca VN hiện đại với tập thơ “Điêu tàn”. Con đường thơ của Ông trải qua nhiều biến động với những trăn trở tìm tòi không ngừng.Thơ của ông giàu tính triết lý,trong đó thường có rất nhiều những hình ảnh độc đáo và tinh tế.Ông đã sáng tác bài thơ “Tiếng hát con tàu” như một bài ca về một cách nhìn mới với một đất nước mới, thời kỳ này miền Bắc khôi phục kinh tế,bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, thời kỳ mà giới văn nghệ sĩ đã có ý thức gắn bó mật thiết với công cuộc xây dựng cuộc sống mới của nhân dân, tự nguyện sẵn sàng đi đến những miền xa xôi của đất nước còn gặp nhiều khó khăn,gian khổ.

Thân bài: Phân tích đặc sắc nghệ thuật trong Tiếng hát con tàu – Chế lan viên

Chế Lan Viên đã làm bài thơ này để theo con tàu tâm tưởng đến với Tây Bắc với con người thân thiện nơi đây, điểm nhấn chính về phương diện nghệ thuật của bài thơ là nghệ thuật xây dựng hình ảnh thể hiện trước hết qua nhan đề và lời đề từ “ Tiếng hát con tàu” thật bất ngờ nhan đề đã gợi mở ra một bức hình sinh động, những âm thanh du dương, nhờ biện pháp nhân hóa con tàu mà tác giả đã gửi gắm thành công tình yêu quê hương.

Bốn câu mở đầu, được sáng tạo bằng tấm lòng của nhà thơ với mảnh đất ấy:

“ Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Khi Tổ quốc bộn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”.

Vừa đọc khổ thơ này, hình ảnh liên tưởng cho ta là Con tàu và Tây Bắc – những hình ảnh và địa danh mang tính biểu tượng. Con tàu là biểu tượng của khát vọng đi xa về với nhân dân, đến với những ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật, nhưng con tàu cũng có thể còn ý nghĩa tả thực vào những năm 1956-1958, có hàng vạn bộ đội và thanh niên xung kích đi khôi phục tuyến đường xe lửa lên Lào Cai, Yên Bái, thành công của con đường này có ý nghĩa rất to lớn. “Tây Bắc” là một đia danh tuyệt đẹp với cảnh sắc thiên nhiên, nhưng hết sức xa xôi, kèm cả thiếu thốn nhất của cực Tây Tổ quốc, nơi đó nhà thơ đã nhỏ máu tâm hồn xuống đất. Như vậy, Tây Bắc là nơi đến và là nơi trở về, trở về với nhân dân, về với kỷ niệm trong 9 năm kháng chiến, đến lúc tác giả phải thốt lên một câu thơ rất đắc “tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”. Nói một cách khéo léo, khi tâm hồn tình cảm của nhà thơ đã hòa làm một với hơi thở và tinh thần của cuộc sống lớn thì là lúc nhà thơ tìm thấy được những cảm xúc thơ ca đích thực cho bài thơ của mình.

Ở hai khổ thơ tiếp theo, đã một lần nữa sử dụng thành công biện pháp tu từ:

Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Mở đầu khổ thơ là câu hỏi mang tầm vóc của thời đại, chứa đựng tâm hồn chung của thời kì lịch sử, nhà thơ đã mượn hình ảnh thiên nhiên để khơi gợi khát vọng lên đường. “Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng”. Nhà thơ nói với người khác và cũng là tự nhủ với chính lòng mình. Nghệ thuật sẽ không nảy sinh khi người nghệ sĩ không mở rộng hồn mình đón nhận những vang động của cuộc đời. Hayx ra khỏi những cô đơn chật hẹp của mình mà hòa nhập với mọi người, hãy vượt ra khỏi chân trời của cái tôi nhỏ bé để đến với chân trời của tất cả. Khát vọng này rất dễ tìm thấy trong những tác phẩm của Chế Lan Viên vì tâm hồn ông luôn rộng lớn muốn truyền nó đến với mọi người.

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường

Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Tác giả sử dụng thêm biện pháp so sánh trùng điệp rất tài tình trong những câu thơ tiếp để muốn truyền tải đến độc giả một niềm hạnh phúc, khát vọng về với nhân dân và những kỷ niệm sâu nặng nghĩa tình.Nhà thơ đã nhắc đến kháng chiến với một tấm lòng đặc biệt biết ơn những tình cảm thiêng liêng sâu nặng. Từ cách xưng hô ta từ những khổ thơ trên sang cái tôi cá nhân “con” – một cách xưng hô vừa thể hiện tấm lòng thành kính với nhân dân, vừa thể hiện tình cảm yêu thương bền chặt. Những hình ảnh này vừa có vẻ đẹp thơ mộng mượt mà, vừa có sự hòa hợp giữa nhu cầu khát vọng của bản thân với hiện thực. “Trở về với nhân dân” không chỉ là niềm vui là một lẽ tự nhiên phù hợp với quy luật về với cội nguồn bất tận của sự sống,với những gì sâu nặng thân thiết của lòng mình.

Tiếp theo tác giả sử dụng rất nhiều bút pháp tả thực khi đi từ những khái niệm trừu tượng ở những khổ thơ trên mà trở về với những con người gần gũi xiết bao thương mến. Nhân dân là anh con người anh du kích với chiếc áo nâu “Suốt một đời vá rách/ Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”. Là anh em, “ thằng em liên lạc,rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ, đó là mế với “lửa hồng soi tóc bạc” “Năm con đau mế thức một mùa dài”. Với những điệp ngữ “nhớ” bài thơ chồng chất, ăm ắp kỉ niệm xúc động theo dòng hồi ức của nhà thơ.

Tính nghệ thuật còn nằm trong sự triết lý trong những câu thơ:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chi là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Tác giả đã làm nên những câu thơ đáng để phải suy ngẫm, chiêm nghiệm, giàu tính khái quát về quy luật đời sống tình cảm trong tâm hồn con người. Đoạn thơ châm ngôn này được đúc kết một cách sắc xảo, súc tích mà vẫn có cái gì đó mới lạ, tất yếu mà vẫn thấy thật bất ngờ. Những miền quê mờ xa ẩn hiện trong màn sương giăng và mây phủ nghe có vẻ rất hấp dẫn, và đó là miền đất của tác giả- miền đất yêu thương, nên thơ. Ta còn thấy tác giả nhắc về tình yêu, chính tình yêu đã biến những vùng đất xa lạ trở thành thân thiết như quê hương ta, hóa thành máu thịt của tâm hồn ta, nơi ta đã để lại những giọt máu, mồ hôi đáng quý. Hình ảnh so sánh ở đoạn thơ này thấm đậm tính triết lý, mỗi sự vật, hiện tượng chỉ có thể tồn tại, có ý nghĩa trong mối quan hệ gắn bó sinh tử với một sự vật hiện tượng khác, triết lí ấy được rút ra từ tình cảm, cảm xúc chân thành từ tiếng lòng của tác giả không hề khô khan mà đến rất tự nhiên, giản dị. Đây được coi là những câu thơ hay nhất đời Chê Lan Viên.

Cuộc kháng chiến ấy diễn ra nơi vùng đất Tây Bắc đầy gian khổ, hy sinh, nhưng trên tất cả đã đặt niềm tin nơi thắng lợi, và quả thật đã đạt được thắng lợi vang dội trong những năm tháng này và đang trên con đường công cuộc đổi mới đất nước nên tác giả cũng gửi đến tình cảm đặc biệt nơi vùng đất này và chỉ nhắc đến như gợi nhớ về kỉ niệm tuyệt vời tuy đau thương vẫn hằn sâu trong tác giả. Hình ảnh được nhắc đến trong mỗi câu văn thường nhiều, phong phú và cũng tương xứng với nó là ý nghĩa của nó mà tác giả gửi gắm không hề nhỏ, khiến bài thơ mang một vẻ đẹp rất khác, đầy sâu sắc, tinh tế đến từng con chữ, giọng điệu ngọt ngào dễ thấm vào lòng độc giả và vẫn được nhấn mạnh nổi bật mà bạn đọc có thể cảm nhận được.

Kết bài: Bài văn phân tích đặc sắc nghệ thuật trong Tiếng hát con tàu – Chế lan viên

Khi nhắc đến nhà thơ ta nhớ ngay đến tác phẩm Tiếng hát con tàu, với những phương diện nghệ thuật tuyệt vời của tác phẩm xúc tác cho lời thơ thêm bay bổng con tàu chính là tâm hồn tuyệt vời của nhà thơ. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương đất nước,một tình quân dân keo sơn.Chằng những vậy mà lời thơ của Chế Lan Viên đã được các nhà phê bình ví như “một người phụ nữ đẹp ưa trang sức và biết cách trang điểm” nhà thơ thành công với phong cách sáng tác của mình.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM

HÌNH ẢNH CON TÀU TRONG THƠ CHẾ LAM VIÊN

CẢM NGHĨ VỀ HÌNH ẢNH CON TÀU TRONG KÍ ỨC CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN

CẢM NHẬN SAU KHI HỌC XONG BÀI THƠ: ” TIẾNG HÁT CON TÀU”

Theo Webvanmau.com

Loading...